Bối cảnh đột biến >> Bộ Tư bản: một tác phẩm thiên tài

Bộ Tư bản: một tác phẩm thiên tài

Bộ Tư bản là tác phẩm thiên tài của Mác mà ông đã dành hơn bốn mươi năm cuộc đời của mình để suy nghĩ, nghiên cứu và thể hiện. Đó là bộ sách mà người ta luôn luôn ngạc nhiên về sự kỳ vĩ mà luôn luôn bộc lộ ra những điều mới. Bộ sách này cho đến nay đã khẳng định được giá trị vô song mà nhân loại còn cần phải khám phá rất lâu dài.


BỘ TƯ BẢN: MỘT TÁC PHẨM THIÊN TÀI

Bộ Tư bản là tác phẩm thiên tài của Mác mà ông đã dành hơn bốn mươi năm cuộc đời của mình để suy nghĩ, nghiên cứu và thể hiện. Đó là bộ sách mà người ta luôn luôn ngạc nhiên về sự kỳ vĩ mà luôn luôn bộc lộ ra những điều mới. Bộ sách này cho đến nay đã khẳng định được giá trị vô song mà nhân loại còn cần phải khám phá rất lâu dài. Tác phẩm thiên tài Tư bản của Mác khó đọc đến mức là để tránh việc đọc và hiểu đến nơi đến chốn tác phẩm vĩ đại đó, nhiều kẻ hậu sinh mang danh khoa học gia hiện đại phương Tây liều lĩnh gạt phăng đi, dùng những lời lẽ đủ mọi màu sắc phủ nhận Mác mà không dám phê phán Mác như Mác đã làm với các tác giả khác trong tác phẩm vĩ đại này.

Bộ Tư bản là bộ sách không thể đọc nhanh được, và người ta phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới hy vọng hiểu được phần nào. Mỗi thế hệ luôn luôn thấy được những điểm mới của bộ Tư bản. Khi các cái phi vật thể trở thành mối quan tâm chung của xã hội hiện đại thì người ta thấy bộ Tư bản lại mở ra những chân trời mới.

Mác viết bộ Tư bản trong cảnh khốn quẫn, nếu không có sự trợ giúp tài chính của Ăngghen thì ông sẽ không còn tiền để thuê nhà, không còn phương tiện để sinh sống.

Mỗi khi đạt được trình độ nhận thức mới về tự nhiên và xã hội, đọc lại bộ Tư bản thì lại thấy được những điều mới mẻ. Đó là điều cần thiết nhất mà một tác phẩm thiên tài luôn luôn đem lại sức sống mới cho sự phát triển của trí tuệ. Tác phẩm thiên tài trang bị cho người ta vô số tri thức, hơn thế nữa, trang bị cho người ta cách tạo ra được những tri thức mới.

Khái niệm vật thể trong thời của Mác đã hàm chứa rằng đó là loại vật thể mà thiên nhiên chưa từng có, nên bản thân điều đó đã là một sự tổng kết thực tiễn ở mức khái quát, thể hiện được sự tiến hoá của lịch sử, tiềm ẩn cả một quá trình lịch sử lâu dài của văn minh nhân loại. Đó là lý do tại sao chương I của Bộ Tư bản hầu như hoàn toàn là lý luận mà người ta lại có cảm giác rằng những lý luận đó rất thực tiễn đúng như nhận xét của Lênin:

"Hình thức trừu tượng của bản trình bày, tuy đôi lúc hình như có tính chất thuần tuý suy diễn, nhưng thật ra là ghi lại những tài liệu vô cùng phong phú về lịch sử phát triển của trao đổi và của sản xuất hàng hoá" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 26, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, trang 74).

a. Phương pháp

Mác nói về nghiên cứu và trình bày: "Về mặt hình thức, phương pháp trình bày phải khác với phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu thì phải nắm lấy vật liệu với tất cả những chi tiết của nó, phải phân tích các hình thái phát triển khác nhau của nó và phải tìm ra được mối liên hệ bên trong của những hình thái đó. Chỉ sau khi hoàn thành công việc đó rồi mới có thể mô tả sự vận động thực tế một cách thích đáng được. Một khi đã làm được như thế và khi đời sống của vật liệu đã được phản ánh trong ý niệm rồi, thì người ta có thể tưởng đó là một kết cấu tiên nghiệm" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 34-35).

Trong thời của Mác, khi xã hội thừa nhận rằng cái bên trong có vai trò chi phối các tiến trình thì người ta mới có khả năng phát hiện ra được những cái gì là bên trong, mới có thể tìm kiếm những thứ mà thực chất là các cái phi vật thể, và công nhận rằng đó là việc làm có ý nghĩa, có giá trị. Trình độ phát triển của văn minh đã đưa đến những kết luận như vậy. Mác đã thể hiện các phát hiện của ông trong những tác phẩm thiên tài bạt ngàn lý luận, ở đấy ông đã đưa ra cách trình bày phi thường.

Mác đã cảnh báo rằng tính khó đọc của tác phẩm của mình, và muốn đọc được thì người đọc cần phải có mong muốn học hỏi một cái gì mới và só suy nghĩ độc lập.

"Mọi bước khởi đầu đều khó - chân lý ấy đúng đối với mọi khoa học" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 16).

"Phương pháp phân tích mà tôi đã dùng và chưa bao giờ được áp dụng vào các vấn đề kinh tế, sẽ làm cho việc đọc các chương đầu khá khó khăn, và tôi sợ rằng công chúng Pháp, bao giờ cũng nôn nóng muốn đi đến kết luận và khao khát muốn biết mối liên hệ giữa những nguyên lý chung và các vấn đề trực tiếp mà họ đang quan tâm, sẽ chán, vì họ sẽ không thể đọc tiếp được ngay.

Đó là điều bất lợi mà tôi không làm gì được, trừ phi báo trước và phòng ngừa cho các bạn khao khát chân lý" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 39).

"Trừ phần nói về hình thái giá trị, quyển sách này không có gì là khó hiểu cả. Tất nhiên, ở đây tôi muốn nói đến những bạn đọc nào mong muốn học hỏi một cái gì mới, và do đó, mong muốn độc lập suy nghĩ" (Tập 23, trang 16).

Mác đã lưu ý vai trò của những cái thoạt tưởng là nhỏ nhặt nhưng lại đặt nền tảng cơ sở cho toà nhà khoa học của lĩnh vực đó, chứ không phải là những điều to tát.

"Vì nghiên cứu một cơ thể đã phát triển thì dễ hơn là nghiên cứu tế bào của cơ thể đó. Ngoài ra khi phân tích những hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những chất phản ứng hoá học được. Sức trừu tượng hoá phải thay thế cho cả hai cái đó. Nhưng hình thái hàng hoá của sản phẩm hay hình thái giá trị của hàng hoá lại là hình thái tế bào kinh tế của xã hội tư sản. Đối với người không am hiểu thì việc phân tích hình thái đó hình như chỉ là một sự suy luận hão xoay quanh những điều nhỏ nhặt. Và đó quả thật là những điều nhỏ nhặt, nhưng lại là những điều nhỏ nhặt, thuộc loại mà khoa vi giải phẫu, chẳng hạn, phải đụng đến" (Tập 23, trang 16).

Hình thái đơn giản lại hàm chứa tất cả các bí mật của sự phát triển về sau.

"Bí mật của mọi hình thái giá trị đều nằm ở trong hình thái đơn giản đó của giá trị. Cho nên điều khó khăn chính là việc phân tích hình thái này" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 81).

Mác làm hiện diện cái phi vật thể xã hội có tên là giá trị trong Chương 1 của Bộ Tư bản. Mác chỉ ra phương pháp luận để nắm được cái phi vật thể, làm thế nào để mò ra vết tích của cái phi vật thể ẩn nấp.

"Giá trị [Wertgegenstaendlichkeit] của các hàng hoá khác với mụ goá Qui-cly ở chỗ là người ta không biết nắm lấy nó ở chỗ nào. Hoàn toàn trái ngược với tính vật chất thô kệch của các vật thể hàng hoá đối với các giác quan, trong giá trị [Wertgegenstaendlichkeit] không có lấy một nguyên tử vật chất nào của tự nhiên cả. Người ta có thể lấy từng hàng hoá riêng ra để sờ nắn, lật đi lật lại đến tuỳ thích, nhưng với tư cách là một giá trị [Wertding] thì người ta vẫn không thể nắm được nó. Nhưng nếu ta nhớ lại rằng các hàng hoá chỉ có giá trị [Wertgegenstaendlichkeit] trong chừng mực chúng là những biểu hiện của cùng một thể thống nhất có tính chất xã hội, tức là của lao động của con người, rằng do đó, giá trị [Wertgegenstaendlichkeit] của hàng hoá chỉ có một tính chất thuần tuý xã hội, thì tự nhiên chúng ta sẽ hiểu được rằng giá trị chỉ có thể thể hiện ra trong mối quan hệ xã hội giữa hàng hoá này với hàng hoá khác mà thôi. Thật vậy, chúng ta xuất phát từ giá trị trao đổi, hay từ quan hệ trao đổi của các hàng hoá, để lần mò ra vết tích của giá trị ẩn nấp trong những hàng hoá đó" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 80).

Mác đã chỉ ra rằng vì quyền lợi kinh tế của mình, giai cấp tư sản che đậy thực chất một cách có chủ ý, và sử dụng những tay sai có bằng cấp để làm những việc đó. Chỉ cần một số rất ít người hiểu được thực thể đó và không cần phải công bố rộng rãi, thậm chí không cần nói đến để làm gì.

"Trong lĩnh vực khoa kinh tế chính trị, việc tự do nghiên cứu khoa học không phải chỉ gặp những kẻ địch mà nó đã gặp trong các lĩnh vực khác. Tính chất đặc thù của thứ tư liệu mà khoa kinh tế chính trị nghiên cứu làm cho những sự say mê cuồng bạo nhất, hèn hạ nhất và đáng ghét nhất của lòng người, tức là những nữ thần báo thù cho lợi ích riêng, xông lên vũ đài chống lại nó" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 21).

Mác không nhượng bộ đối với những thiên kiến của công luận.

"Tôi sẽ hoan nghênh mọi nhận xét của một sự phê phán khoa học. Còn đối với những thiên kiến của cái gọi là công luận, mà không bao giờ tôi nhượng bộ, thì cũng như trước đây, tôi vẫn lấy những những lời sau đây của nhà thơ vĩ đại của thành Phlo-ren-xơ là phương châm: Segui it tuo corso, e lascia dir le genti! [Đường ta, ta cứ đi, ai nói gì cũng mặc]" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 22).

"Chừng nào khoa kinh tế chính trị còn là khoa kinh tế chính trị tư sản, nghĩa là chừng nào nó còn coi trật tự tư bản chủ nghĩa không phải là một nấc phát triển nhất thời trong lịch sử, mà ngược lại là một hình thức tuyệt đối và cuối cùng của nền sản xuất xã hội, thì nó có thể là một khoa học khi mà cuộc đấu tranh giai cấp còn đang ở trong trạng thái tiềm tàng, hoặc mới chỉ bộc lộ ra những biểu hiện đơn nhất mà thôi" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 25).

"Tuy nhiên, có một điều khó khăn mà chúng tôi không thể tránh cho bạn đọc: đó là việc dùng một số từ ngữ theo một nghĩa không những khác với nghĩa vẫn thấy trong đời sống hàng ngày mà cả trong khoa kinh tế chính trị thông thường nữa. Nhưng đó là điều không thể tránh khỏi. Mỗi quan điểm mới của một khoa học đều kéo theo một cuộc cách mạng trong những thuật ngữ chuyên môn của khoa học đó" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 47).

Mác đã mở ra tiến trình nghiên cứu cái phi vật thể. Vì thế phép biện chứng của Mác khác hẳn phép biện chứng của Hêghen, thậm chí ngược hẳn với Hêghen.

Khi nghiên cứu các tạo phẩm phi vật thể của thời hiện đại, người ta sẽ rất thấm thía về điều Mác nói là phân tích hàng hoá là nội dung khó nhất của bộ Tư bản của Người, và vì sao trong phần đó, Người lại dùng lối diễn đạt đặc biệt của Hê-ghen.

"Trước đây gần ba mươi năm, trong thời kỳ mà phép biện chứng Hê-ghen đang còn được ham chuộng, tôi đã phê bình mặt thần bí của nó. Nhưng chính vào lúc tôi biên soạn tập thứ nhất của bộ "Tư bản" thì bọn hậu bối càu nhàu, kiêu căng và tầm thường, ngày nay đang đóng vai trò lãnh đạo trong giới học thức Đức, lại thích coi khinh Hê-ghen - giống như gã Mô-de-xơ Men-đen-xôn thời Lét-xinh có lúc coi khinh Xpi-nô-da - là "đồ chó chết". Vì thế, tôi đã công khai tự nhận là học trò của nhà tư tưởng vĩ đại ấy, và thậm chí trong chương nói về học thuyết giá trị, đôi khi tôi còn làm duyên làm dáng học đòi cái lối diễn đạt đặc biệt của Hê-ghen nữa. Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hê-ghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hê-ghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy. Ở Hê-ghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 35).

Có những việc mà người ta chưa bao giờ thử làm cả, vì thế không thấy được thực chất của nó là gì, mà cũng không dễ làm những công việc đó khi người ta không có quan điểm và tầm nhìn đủ sâu xa để làm việc đó.

"Bây giờ, chúng ta cần phải làm một việc mà ngay cả khoa kinh tế chính trị học tư sản cũng chưa bao giờ thử làm cả, cụ thể là chỉ rõ sự phát sinh của hình thái tiền đó, nghĩa là theo dõi sự phát triển của biểu hiện giá trị nằm ở trong mối quan hệ giá trị của các hàng hoá, từ hình thái đơn giản nhất và ít thấy rõ nhất của nó cho đến hình thái tiền chói lọi. Làm được như thế thì cái tính chất bí ẩn của tiền cũng sẽ mất đi" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 80-81).

b. Những mục đích cơ bản

Khi Mác nhận xét: "Hàng hoá trước hết là vật dụng bên ngoài, là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà thoả mãn được một loại nhu cầu nào đó của con người" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 61) thì Mác đã tìm thấy được điểm chung của tất cả các loại hàng hoá của thời đại ông. Một nhận xét thoạt nhìn rất bình thường đến mức người ta thấy dường như là rất tự nhiên đến mức người ta thường bỏ qua không thấy tầm quan trọng. Cho đến khi phải tìm ra cái chung của các loại hàng hoá thời hiện đại, người ta tìm ra khái niệm tạo phẩm phi vật thể, mà tác giả cuốn sách này là người đầu tiên đưa ra khái niệm "tạo phẩm phi vật thể", mà con đường tìm ra khái niệm đó cực kỳ khó khăn, thì mới thấy được ý nghĩa vĩ đại của một điều tưởng chừng vô cùng đơn giản như vậy. Từ cái chung của các loại hàng hoá đó mà Mác phát triển được khái niệm chủ đạo trong học thuyết kinh tế của mình là giá trị, và phát hiện ra giá trị thặng dư, một phát hiện thiên tài mà tầm ảnh hưởng của nó đến bây giờ vẫn chưa được đánh giá hết. Khái niệm "giá trị thặng dư" có một tầm lan toả đặc biệt khi xem xét những vấn đề phát triển của lịch sử.

"Bản thân vấn đề không phải là trình độ phát triển cao hơn hay thấp hơn của những đối kháng xã hội bắt nguồn từ những quy luật tự nhiên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vấn đề chính là bản thân những quy luật ấy, những xu hướng ấy, những xu hướng đang tác động và đang được thực hiện với một tất yếu gang thép. Nước phát triển hơn về công nghiệp chỉ nêu lên cho nước kém phát triển cái hình ảnh tương lai của bản thân nước này mà thôi" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 19).

"Một nước phải học hỏi và có thể học hỏi ở các nước khác. Một xã hội, ngay cả khi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó, - mà mục đích cuối cùng của tác phẩm này là tìm ra quy luật vận động kinh tế của xã hội hiện đại, - cũng không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ những giai đoạn đó. Nhưng nó có thể rút ngắn và làm dịu bớt được những cơn đau đẻ" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 21).

Theo Mác, cá nhân con người là sản phẩm của hoàn cảnh nhưng lại nghĩ rằng tác động được tới hoàn cảnh, và hoàn cảnh là sản phẩm của mình.

"Nhưng ở đây, tôi chỉ nói đến những con người trong chừng mực họ là hiện thân của những phạm trù kinh tế, là kẻ đại biểu cho những quan hệ và những lợi ích giai cấp nhất định. Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, cho nên so với mọi quan điểm khác, quan điểm của tôi có thể ít quy trách nhiệm hơn cho các cá nhân về những điều kiện mà xét theo ý nghĩa xã hội thì cá nhân đó trước sau vẫn là một sản phẩm của những điều kiện đó, dù cho về mặt chủ quan, cá nhân đó có muốn vươn lên khỏi những điều kiện ấy tới mức nào chăng nữa". (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 21).

c. Thành quả

Việc tìm ra được một dạng phi vật thể là cơ sở chi phối sự vận động toàn xã hội là thành tựu vĩ đại, vô song của Mác.

Lênin đã nhận xét: "Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác" (V. I. Lê-nin, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, trang 55).

Giá trị thặng dư là thực thể của các thặng dư kết hợp của nền kinh tế tư bản, và nguồn tạo ra thực thể đó là lao động của con người. Nắm được thực thể đó, Mác đã phát triển lên học thuyết kinh tế của ông. Thực thể của giá trị thặng dư có sức mạnh xã hội. Phải đạt được cái gì đó xa hơn thì mới thể hiện được tầm vóc thiên tài, nếu không thì cũng chỉ là nhân vật bình thường. Điều đó có nghĩa là gì? Khái quát lên, phải đạt được thành quả gì thì mới thể hiện tầm vóc thiên tài? Đó cũng là mục đích trong những nghiên cứu về sau của cuốn sách này, mà ở đây chúng tôi có thể nói trước rằng đó là sự ảo hoá của các thực thể của thặng dư kết hợp.

Nhưng đạt được thành quả đó thì Mác cũng chỉ là nhân vật bình thường. Có nhà khoa học Phương Tây đã nhận xét: "Nếu như tư tưởng của Marx không đi xa hơn lý thuyết giá trị sức lao động và khái niệm bóc lột thì Marx sẽ chỉ là một nhân vật bình thường. Nhưng Marx đã đi xa hơn. Dựa trên các khái niệm đó, Marx đã suy luận ra một cách khoa học sự quá độ tất yếu từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội". (Paul A. Samuelson, William D. Nordhaus. Kinh tế học. Viện Quan hệ Quốc tế, 1989, tập 2, trang 515-516).

Có mấy người hiểu được tư bản, và khi người ta muốn phát triển tư bản thì người ta cần phải hiểu được người có công lao phi thường làm cho nhân loại hiểu được tư bản, vạch ra được bí mật của tư bản. Đó là C. Mác.

Phát hiện ra một hình thái của cái bên trong của xã hội là giá trị thặng dư, Mác đã đóng góp phi thường cho sự phát triển tri thức của nhân loại, trong việc tạo nên tri thức mới của nhân loại, có thể nói Mác đã thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại trong nhận thức của nhân loại. Từ phát hiện đó, Mác đã chỉ ra được một xã hội mới thay thế xã hội cũ và lực lượng xã hội nào sẽ làm được việc chuyển biến xã hội đó.

Tạo phẩm phi vật thể "giá trị" là công trình chung của xã hội. Giá trị là một tạo phẩm phi vật thể xã hội là công trình chung của xã hội, do nhiều thế hệ thiết tạo nên. Giá trị được cài đặt vào mỗi con người trong xã hội, biến mọi hàng hoá thành cái mà biểu hiện cho nó.

Mác chỉ ra những sai lầm chí tử của các nhà khoa học đi trước ông, kế thừa, sửa lại, nâng cao các luận điểm có giá trị.

Từ ý tưởng như vậy, ông đã phát triển thành công trình đồ sộ, bao quát được mọi mặt của khoa kinh tế chính trị học và thực tiễn xã hội của thời đại, và dự báo tương lai. Không ai làm được như vậy. Nhiều người có ý tưởng, nhưng không phát triển được thành một công trình đồ sộ đạt tính bao quát, do đó những ý tưởng đó chỉ có giá trị hạn hẹp. Điều khó khăn là phải thấy được vấn đề chủ yếu nằm ở chỗ nào mà giải quyết được vấn đề đó thì mới giải quyết được những vấn đề khác, mọi vấn đề khác muốn được giải quyết thì đều mắc phải vấn đề, phải đụng chạm đến vấn đề đó.

Do tổng kết được thực tiễn, chỉ ra được cái chung nhất và chiều hướng vận động của thực tiễn nên những gì được viết ra có vẻ là sự suy diễn thì lại là thể hiện sự sinh động của thực tiễn, bao quát và lô gích.

Mác đã chỉ ra phương pháp luận, cách thức nắm bắt được dạng phi vật thể.

"Thoạt mới nhìn thì hàng hoá có vẻ là một vật rất đơn giản và tầm thường. Sự phân tích hàng hoá lại cho thấy rằng nó là một vật rất rắc rối, đầy những sự tế nhị siêu hình và những sự kỳ quái thần học. Là một giá trị sử dụng thì nó chẳng có gì là bí hiểm cả, dù cho ta có xét nó về mặt là nhờ các thuộc tính của nó, nó thoả mãn được những nhu cầu của con người, hay là xét về mặt nó có được những thuộc tính đó chỉ vì nó là sản phẩm lao động của con người. Dĩ nhiên ai cũng hiểu rằng với hoạt động của mình, con người biến đổi hình thái của các thực thể của tự nhiên theo cách có ích cho họ. Ví dụ, hình thức của gỗ thay đổi nếu ta lấy gỗ làm một cái bàn. Nhưng tuy vậy, cái bàn vẫn là gỗ, một vật thông thường mà người ta có thể biết được thông qua các giác quan. Nhưng một khi nó trở thành hàng hoá, thì nó lại biến thành một vật vừa có thể biết được nhờ giác quan, lại vừa không thể biết được qua giác quan. Không những nó đứng trên mặt đất bằng chân, mà còn đứng lộn ngược đầu xuống đất trước mặt tất cả các hàng hoá khác, và cái đầu gỗ đó của nó lại đẻ ra những ý kiến kỳ quái, còn lạ lùng hơn là khi nó tự động đứng lên nhảy múa nữa" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 113-114).

"Như vậy tính thần bí của hàng hoá không phải do giá trị sử dụng của nó sinh ra. Tính thần bí đó cũng không phải do nội dung những tính quy định của giá trị sinh ra" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 114).

"Thế thì tính chất bí ẩn của sản phẩm lao động khi sản phẩm ấy bắt đầu mang hình thái hàng hoá, do đâu mà có? Rõ ràng là do chính bản thân hình thái ấy. Tính bình đẳng của các loại lao động khác nhau của con người lại mang hình thái vật có tính vật thể giống nhau của giá trị của những sản phẩm lao động; thước đo các chi phí về sức lao động của con người bằng độ dài của các chi phí ấy lại mang hình thái đại lượng giá trị của các sản phẩm lao động; cuối cùng, những mối quan hệ giữa những người sản xuất, trong đó những tính quy định xã hội của lao động của họ được thực hiện, lại mang hình thái một quan hệ xã hội giữa các sản phẩm lao động" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 115).

"Do đó, tính chất bí ẩn của hình thái hàng hoá chỉ là ở chỗ: hình thái đó phản ánh cho người ta thấy tính chất xã hội của lao động của bản thân họ là như là một tính chất vật thể của chính ngay những sản phẩm lao động, như là những thuộc tính xã hội của các vật đó, do tự nhiên đem lại; vì vậy, cả mối quan hệ xã hội của những người sản xuất đối với toàn bộ lao động cũng được họ hình dung như là một mối quan hệ xã hội của các vật nằm ở bên ngoài họ. Nhờ quid pro quo [việc lấy cái nọ thay cái kia] đó mà những sản phẩm lao động trở thành hàng hoá, thành những vật mà người ta vừa có thể biết được lại vừa không thể biết được nhờ các giác quan, hay là những vật xã hội. Tác động quang học mà một vật gây ra cho thần kinh thị giác thì cũng vậy: người ta không cảm xúc thấy đó là một sự kích thích chủ quan của bản thân thần kinh thị giác mà là một hình thù khách quan của một vật ở ngoài con mắt. Nhưng trong thị giác, ánh sáng đã thực sự được một vật, một vật thể bên ngoài, chiếu vào một vật khác tức là con mắt. Đó là quan hệ vật lý giữa các vật thể. Nhưng hình thái hàng hoá và quan hệ giá trị giữa các sản phẩm lao động trong đó nó được biểu hiện ra, thì tuyệt nhiên không có gì giống với bản chất vật lý của các vật và những quan hệ của các vật bắt nguồn từ bản chất vật lý đó cả. Đó là chỉ một quan hệ xã hội nhất định của chính con người, nhưng dưới con mắt của họ thì quan hệ ấy lại mang cái hình thái kỳ ảo của mối quan hệ giữa các vật. Muốn tìm được một thí dụ tương tự với hiện tượng đó, chúng ta phải đi vào cõi mù mịt của thế giới tôn giáo.

"Trong cái cõi ấy, các sản phẩm của bộ óc con người thể hiện ra thành những sinh vật độc lập, có cuộc sống riêng của chúng, có những mối quan hệ nhất định với con người và giữa chúng với nhau. Trong thế giới hàng hoá, các sản phẩm do bàn tay con người làm ra cũng thế. Tôi gọi cái đó là tính chất bái vật giáo gắn liền với các sản phẩm của lao động khi những sản phẩm này được sản xuất ra với tư cách là hàng hoá, và do đó, tính chất bái vật giáo ấy không thể tách rời khỏi phương thức sản xuất hàng hoá được" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 115-116).

"Chỉ có trong phạm vi trao đổi với nhau, các sản phẩm lao động mới có được một tính vật thể của giá trị giống nhau về mặt xã hội, tách khỏi những tính vật thể để sử dụng khác nhau mà người ta có thể nhận biết nhờ các giác quan" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 116).

Chính nhận xét của Mác về tính vật thể của hàng hoá là nguyên nhân khiến Mác viết chương Máy móc và Đại công nghiệp, một chương mà có thể nói là chưa ai viết được.

Giai cấp vô sản phải được vũ trang bằng lý luận thì mới có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội được. Việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn là để rút ra được cách thức hành động đúng trong các tình huống nhất định, kể cả thông qua những sai lầm. Nhưng điều đáng nói rằng các kinh nghiệm này được đảng cách mạng tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng, không sợ các thế lực đối địch cũng nắm được và tận dụng để tiêu diệt phong trào cách mạng. Giai cấp tư sản không học được, không hiểu được và không sử dụng được các phương tiện mà giai cấp vô sản tự vũ trang cho mình. Địa vị khác nhau và quyền lợi đối địch khiến cho giai cấp tư sản không thể dùng các vũ khí của giai cấp vô sản nhằm chống lại giai cấp vô sản được. Vũ khí của giai cấp vô sản chính là sự đoàn kết của họ.

"Ở Pháp và Anh, giai cấp tư sản đã giành được quyền lực chính trị. Từ đó, trong thực tiễn cũng như trong lý luận, cuộc đấu tranh giai cấp mang những hình thái ngày càng rõ rệt và đáng sợ. Đồng thời giờ tận số của khoa kinh tế chính trị tư sản khoa học cũng đã điểm. Bây giờ, vấn đề không còn là tìm xem định lý này hay định lý kia là đúng hay không đúng nữa, mà là tìm xem nó có lợi hay có hại cho tư bản, phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu của cảnh sát. Sự nghiên cứu không vụ lợi nhường chỗ cho những cuộc bút chiến của những kẻ viết thuê, những sự tìm tòi khoa học vô tư nhường chỗ cho lương tâm độc ác và ý đồ xấu xa của bọn chuyên nghề ca tụng" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 29).

"Trong chừng mực sự phê phán đó nói chung đại biểu cho một giai cấp nhất định thì nó chỉ có thể đại biểu cho giai cấp mà sứ mệnh lịch sử là thực hiện một cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và vĩnh viễn xoá bỏ các giai cấp, tức là cho giai cấp vô sản, mà thôi". (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 30-31).

Những thành quả lớn lao của các thế kỷ trước không đủ để tiến hành trong thế giới hiện nay. Điều khiếm khuyết của các quan niệm cũ là nghiên cứu thế giới theo những thiết tạo, có nghĩa là nghiên cứu thế giới từ các thành phần của nó, chứ không phải là nghiên cứu với tư cách một tiến trình rộng lớn bao quát hơn tác động mà tạo nên các thành quả. Mác đã sửa lại quan niệm cũ đó và đó là một điều quý báu trong phương pháp luận nghiên cứu thế giới phi vật thể.

"Ri-các-đô chưa bao giờ đặt vấn đề nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư. Ông coi giá trị thặng dư là cái gì đó nội tại thuộc về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà theo ông là hình thức tự nhiên của nền sản xuất xã hội. Ở nơi nào ông ta nói đến năng suất lao động thì ông không coi nó là nguyên nhân tồn tại của giá trị thặng dư, mà chỉ coi đó là nguyên nhân quyết định đại lượng của giá trị thặng dư mà thôi. Trái lại, trường phái của ông ta lại lớn tiếng tuyên bố rằng sức sản xuất của lao động là nguyên nhân sinh ra lợi nhuận (xin đọc là: giá trị thặng dư). Dù sao, đó cũng là một bước tiến so với phái trọng thương là phái cho rằng số dư trong giá cả của sản phẩm so với chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó là do trao đổi, do bán sản phẩm cao hơn giá trị của nó, đem lại. Tuy vậy, trường phái Ri-các-đô cũng chỉ lẩn tránh vấn đề chứ không giải quyết vấn đề. Thật ra, do bản năng, các nhà kinh tế học tư sản đó cũng cảm thấy rằng sẽ rất nguy hiểm nếu nghiên cứu quá sâu vấn đề nóng hổi về nguồn gốc của giá trị thặng dư" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 728).

Nói về sự tầm thường hoá Ri-các-đô của Giôn Xtiu-ác Min

"Trên một miếng đất bằng phẳng thì một mô đất thường thôi cũng làm cho người ta có cảm giác là một ngọn đồi; cho nên người ta có thể đo sự tầm thường của giai cấp tư sản ngày nay của chúng ta bằng cách căn cứ vào kích thước của những "nhà tư tưởng vĩ đại" của giai cấp ấy" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 731).

Mác nói về công trình chung của xã hội có khi diễn sau lưng người ta, khiến cho người ta có quan niệm sai lạc về điều gì đang thực sự diễn ra:

"Những tỷ lệ khác nhau theo đó các loại lao động khác nhau được quy thành lao động giản đơn, coi đó là một đơn vị dùng để đo các loại lao động khác nhau ấy, - những tỷ lệ khác nhau ấy được xác định bởi một quá trình xã hội diễn ra ở đằng sau lưng những người sản xuất, cho nên những người này vẫn tưởng rằng những tỷ lệ đó do tập quán xác định nên" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 75-76).

Không phải ai cũng nắm được, hiểu được cái thực thể đó. Khi một xã hội mới phát triển thì phải vận động đến một trình độ nào đó thì mới bộc lộ ra thực thể của các thặng dư kết hợp trong xã hội đó là gì.

Mác đã thấy vai trò phi thường của thời gian trong thời đại của Người một khi nó mang tính xã hội. Thời gian lao động xã hội cần thiết có một sức mạnh ghê gớm.

"Phải đợi đến khi có một nền sản xuất hàng hoá hoàn toàn phát triển thì mới có thể từ bản thân kinh nghiệm mà rút ra được một nhận thức khoa học là: các lao động tư nhân, được tiến hành một cách độc lập đối với nhau nhưng lại gắn liền với nhau về mọi mặt với tư cách là những khâu của sự phân công lao động xã hội tự phát luôn luôn được quy thành thước đo xã hội của chúng một cách tỷ lệ. Cần phải có một nền sản xuất hàng hoá hoàn toàn phát triển để cho nhận thức khoa học ấy xuất hiện, bởi vì trong những quan hệ trao đổi ngẫu nhiên và thường xuyên biến động giữa các sản phẩm của những lao động ấy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra các sản phẩm ấy chỉ dùng bạo lực để tự mở đường cho mình với tư cách là một quy luật tự nhiên có tác dụng điều tiết, cũng giống như quy luật trọng lực làm cho người ta biết đến nó khi chiếc nhà sụp đổ xuống đầu mình. Vì thế, việc quy định đại lượng của giá trị bằng thời gian lao động là một điều bí mật ẩn giấu đằng sau sự vận động có thể thấy được của giá trị tương đối của các hàng hoá. Việc khám phá ra điều bí mật ấy xoá bỏ được cái ảo ảnh cho rằng hình như đại lượng của giá trị của sản phẩm lao động được quy định một cách thuần tuý ngẫu nhiên, nhưng việc ấy tuyệt nhiên không xoá bỏ được cái hình thái vật thể của sự quy định đại lượng của giá trị" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 119-120).

"Nói chung, sự suy nghĩ về những hình thái của đời sống con người, và do đó, việc phân tích khoa học những hình thái đó, đi theo một con đường hoàn toàn ngược lại với sự phát triển thực tế. Việc nghiên cứu đó bắt đầu post festum [sau khi sự việc đã diễn ra], và vì vậy nó bắt đầu với những kết quả đã có sẵn của quá trình phát triển. Những hình thái in con dấu hàng hoá lên trên các sản phẩm lao động, và vì vậy là những tiền đề của lưu thông hàng hoá, đã có tính vững chắc của những hình thái tự nhiên của đời sống xã hội trước khi con người tìm hiểu - không phải tính chất lịch sử của những hình thái đó, vì đối với con người thì các hình thái đó trái lại đã mang một tính chất bất di bất dịch rồi - mà chỉ tìm hiểu nội dung của nó mà thôi. Như vậy là chỉ có sự phân tích giá cả các hàng hoá mới dẫn đến việc xác định đại lượng của giá trị, và chỉ có biểu hiện chung bằng tiền của các hàng hoá mới dẫn đến chỗ cố định được tính chất giá trị của các hàng hoá. Nhưng chính cái hình thái hoàn chỉnh ấy của thế giới hàng hoá - hình thái tiền lại che giấu tính chất xã hội của các lao động tư nhân vào đằng sau lưng các vật, và do đó che giấu cả những quan hệ xã hội của những người lao động tư nhân, trong lúc lẽ ra phải bóc trần những quan hệ ấy" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 120).

"Chính những hình thái loại đó đã cấu thành các phạm trù của khoa kinh tế tư sản. Đó là những hình thái có ý nghĩa xã hội, do đó là những hình thái tư duy khách quan đối với những quan hệ sản xuất của phương thức sản xuất xã hội lịch sử nhất định ấy, tức là của nền sản xuất hàng hoá. Vì vậy, toàn bộ tính chất thần bí của thế giới hàng hoá, tất cả những điều kỳ lạ và những bóng ma đang bao phủ các sản phẩm lao động như một đám mây mù trên cơ sở nền sản xuất hàng hoá, sẽ biến đi ngay lập tức, một khi chúng ta chuyển sang những hình thái sản xuất khác" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 121).

"Quá trình trao đổi các hàng hoá chứa đựng những mối quan hệ mâu thuẫn và loại trừ lẫn nhau. Sự phát triển của hàng hoá không xoá bỏ được các mâu thuẫn đó nhưng lại tạo ra một hình thái trong đó các mâu thuẫn ấy có thể vận động được" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 160). Sự vận động của mâu thuẫn trong những điều kiện nhất định.

"Hình thái vận động một chiều của tiền phát sinh từ hình thái vận động hai chiều của hàng hoá, - sự kiện ấy vẫn bị che lấp. Chính bản chất của lưu thông hàng hoá đã đẻ ra cái vẻ bên ngoài ngược lại" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 176). Cái bản chất bên trong lại tạo ra cái vẻ bên ngoài ngược lại.

"Hình thái lưu thông trong đó con nhộng tiền chuyển hoá thành tư bản, mâu thuẫn với hết thảy các quy luật đã trình bày trước đây về bản chất của hàng hoá, giá trị, tiền và bản thân lưu thông. Chỗ khác nhau giữa nó và lưu thông hàng hoá giản đơn là cái trình tự ngược lại của cũng hai quá trình đối lập ấy, tức là bán và mua. Nhưng do phép lạ nào mà một sự khác nhau có tính chất thuần tuý hình thức như thế lại có thể cải biến ngay cả bản chất của quá trình ấy?" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 234-235).

Sự phát triển giá trị thặng dư dẫn tới việc phân công lao động xã hội, tạo ra các bộ phận có những chức năng xã hội mới.

Mác tiên đoán rằng cạnh tranh tự do sẽ dẫn đến độc quyền và khi chủ nghĩa tư bản đạt tới độc quyền thì nó sẽ có những động thái mới.

"Trong mỗi ngành sản xuất nhất định, sự tập trung sẽ đạt đến giới hạn cuối cùng của nó khi nào tất cả các tư bản bỏ vào ngành đó đều hợp lại thành một tư bản duy nhất. Trong một xã hội nhất định thì giới hạn đó chỉ đạt được khi nào toàn bộ Tư bản xã hội được hợp nhất lại trong tay một nhà tư bản duy nhất hay là một công ty tư bản duy nhất" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 883).

Mác đã làm một việc là nghiên cứu tư bản trong thời đại của ông một cách cặn kẽ. Đó là một mẫu mực để các thế hệ sau nghiên cứu những điều kiện kinh tế xã hội của mình, giúp cho thế hệ sau biết rằng một công trình khoa học xã hội cần phải hoàn thành những gì, làm được những gì để bảo đảm được tính khoa học và đạt được giá trị thực tiễn. Vì thế, một khi xã hội đã phát triển đến giai đoạn mới thì người ta phải chỉ ra bằng được những hình thái mới trong các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác.

"Lẽ tất nhiên, nếu tổ chim không tồn tại được lâu hơn số thời gian cần thiết để xây tổ ấy thì chim sẽ không cần làm tổ nữa" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 729). Nếu sự sống không vươn tới tầm tương lai thì sự sống không cần thiết tạo nên các chất liệu của sự sống nữa.

"Tín dụng nhà nước trở thành cái tín điều của tư bản. Và với sự xuất hiện của quốc trái, thì thay cho tội xúc phạm thần linh, một tội không thể nào tha thứ được, là tội vi phạm lòng tin đối với quốc trái" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 1048).

Phương thức sản xuất tư bản ra đời đầy máu và nước mắt. Con đường đầy bạo lực đau khổ nhưng không thể tránh khỏi đối với việc ra đời một chế độ xã hội mới.

"Bạo lực là bà đỡ của một chế độ xã hội cũ đang thai nghén một chế độ xã hội mới. Bản thân bạo lực là một tiềm lực kinh tế" (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 1993, trang 1043).